Bệnh lý u ảnh hưởng thế nào tới sức khoẻ?

Bệnh lý u là gì?

  U là 1 khối mô tân sản (neoplasm), được hình thành do sự tăng sinh bất thường, quá mức và tự động của các tế bào cơ thể đã bị chuyển dạng (transformed cell). 

  Trong y khoa, ngành học chuyên nghiên cứu về các loại u được gọi là ung bướu học (oncology).

  Trong giai đoạn phôi thai, quá trình tăng trưởng và biệt hoá để hình thành các loại mô và cơ quan khác nhau khiến nhiều loại tế bào bị mất đi khả năng sinh sản, khả năng này chỉ còn được duy trì ở các tế bào gốc (thí dụ: tế bào lớp đáy của biểu bì, tế bào tủy trong tủy xương,…). Tốc độ sinh sản trong các mô được kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ chế điều hoà tăng trưởng nhằm đảm

bảo sự hiệp đồng giữa chúng, phục vụ cho sự phát triển của 1 cơ thể thống nhất (thí dụ: tế bào

của lớp đáy biểu bì có tốc độ sinh sản phù hợp nhịp độ bong tróc của các tế bào lớp bề mặt).

Tốc độ sinh sản của tế bào trong mô có thể được đẩy nhanh lên nhằm bù đắp cho các thương

tổn mô gây ra bởi các tác nhân vật lý, hoá học, vi sinh vật (thí dụ: tăng sinh mô liên kết-mạch

máu trong phản ứng sửa chữa); hoặc khi mô bị kích thích bởi các hormôn đặc hiệu tương ứng (thí

dụ: phì đại tăng sản cơ tử cung khi mang thai). Khi các tác nhân kích thích nói trên không còn

nữa, tốc độ sinh sản lại trở về bình thường như trước. 

  U có thể xuất phát từ các tế bào cơ thể đã bị chuyển dạng của bất kỳ mô nào trong cơ thể.

Tuy vậy, u hay gặp hơn ở những mô còn duy trì hiện tượng phân bào thường xuyên như biểu mô,

mô liên kết,… Những tế bào và mô đã biệt hoá cao không còn hoạt động phân bào như mô cơ

tim hoặc các nơron thì hiếm khi bị chuyển dạng để tạo thành u. Tốc độ sinh sản của các tế bào

u có thể nhanh hoặc chậm nhưng không bao giờ ngừng lại, cho dù các tác nhân sinh u không

còn nữa; nói cách khác, sự sinh sản của các tế bào u có tính tự động, không còn bị kiểm soát bởi

các cơ chế điều hoà tăng trưởng bình thường trong cơ thể. Chính vì vậy mà u vẫn tiếp tục lớn lên trong khi bệnh nhân ngày một suy mòn, có thể gây tử vong nếu không được phẫu thuật cắt bỏ kịp thời. (Hình 1)

Tính sinh sản tự động của tế bào u giúp phân biệt các trường hợp sau đây không phải là u thực, còn gọi là u giả hoặc tổn thương giả u:

  – U hạt viêm, polýp mũi. (Hình 2A và 2B)

  – Nang bẩm sinh (nang khe mang, nang giáp thiệt).

  – Nang ứ đọng (bọc thượng bì ở da, bọc nang noãn buồng trứng).

  – Các biến đổi hình thái do rối loạn nội tiết (phình giáp, biến đổi sợi bọc tuyến vú).

  – Hamartôm: là 1 dị tật bẩm sinh có dạng giống u, được hình thành do sự tăng sinh quá mức nhưng không có tính tự động của các tế bào và mô trưởng thành tại ngay chính vị trí bình thường của chúng; thí dụ các hamartôm ở phổi, hamartôm ở vú. (Hình 2C và 2D)

  – Choristôm: cũng là 1 dị tật bẩm sinh có dạng giống u, cấu tạo bởi các mô có cấu trúc bình thường nhưng không ở đúng vị trí bình thường của chúng, vì vậy còn được gọi là mô lạc chỗ (heterotopic tissue). Thí dụ 1 đám mô tuyến tụy nằm trong lớp dưới niêm mạc của thành dạ dày. (Hình 2E và 2F)

Hình 2: Các tổn thương giả u. Polýp mũi (A), trên vi thể chỉ là tình trạng viêm và phù nề niêm mạc mũi (B). Hamartôm phổi (C), cấu tạo vi thể gồm biểu mô hô hấp, sụn, cơ trơn trưởng thành sắp xếp lộn xộn (D). Choristôm ở thành dạ dày (E), cấu tạo vi thể gồm các nang tuyến tụy và ống bài xuất (F).

II. DANH PHÁP U

  Dựa vào diễn tiến của u và tác động của nó đối với bệnh nhân, u được phân biệt thành hai loại chính: 

  – U lành: thường lớn chậm, khu trú tại chỗ, không xâm nhập mô xung quanh hoặc lan đi nơi khác (còn gọi là di căn), khỏi hẳn sau cắt bỏ và hiếm khi gây tử vong cho bệnh nhân

  – U ác: còn gọi là ung thư, thường lớn nhanh, xâm nhập vào mô xung quanh, cho di căn xa và gây ra tử vong.

  Ngoài 2 loại trên, còn gặp một số loại u có độ ác tính không rõ ràng, diễn tiến khó lường, được gọi là u có độ ác tính giáp biên hoặc u giáp biên ác. U giáp biên ác thường lớn chậm, xâm nhập tại chỗ, hay tái phát sau cắt bỏ nhưng hiếm khi di căn xa; thí dụ: u đại bào xương, u diệp thể vú giáp biên, u bọc buồng trứng giáp biên,…

  Tất cả các loại u (ngoại trừ các ung thư máu), dù lành hay ác cũng đều được tạo nên bởi 2 thành phần căn bản: mô chủ u và mô đệm u. (Hình 3)

Hình 3: Phân biệt dễ dàng giữa mô chủ và mô đệm đối với u tuyến dạng polýp đại tràng lành tính (A, B) và carcinôm tuyến đại tràng (C, D); nhưng khó khăn đối với u xuất phát từ trung mô, thí dụ như u cơ trơn lành tính thân tử cung (E, F), hoặc sarcôm cơ trơn thân tử cung (G, H).

– Mô chủ u (parenchyma): tạo bởi các tế bào chuyển dạng tức là các tế bào u; chính thành phần này quyết định diễn tiến cũng như tên gọi của khối u.

  – Mô đệm u (stroma): tạo bởi mô liên kết, các mạch máu và mạch bạch huyết; tuy không phải là các tế bào u nhưng có vai trò nâng đỡ và cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng trưởng của khối u.

  Sự phân biệt giữa 2 thành phần trên thì dễ dàng đối với các u xuất phát từ biểu mô nhưng rất khó khăn đối với các u xuất phát từ mô liên kết, vì cả 2 thành phần đều có chung nguồn gốc.

1. Danh pháp u lành

  Tên của u được tạo ra bằng cách gắn đuôi OMA vào tên loại tế bào mà từ đó u xuất phát. Thí dụ:

  * U lành xuất phát từ mô sợi là fibroma.

  * U lành xuất phát từ mô sụn là chondroma.

  Đối với u lành xuất phát từ biểu mô, việc đặt tên phức tạp hơn nhiều. Một số u được đặt tên dựa theo hình ảnh đại thể, vi thể hoặc cả hai; số khác lại dựa theo tế bào nguyên ủy. Thí dụ:

  * U tuyến (adenoma) là u xuất phát từ biểu mô tuyến, hình ảnh vi thể cho thấy u tạo bởi các cấu trúc tuyến.

  * U tuyến bọc (cystadenoma) là u tạo bởi các bọc, lót bởi biểu mô tuyến

  * U nhú (papilloma) u xuất phát từ các biểu mô phủ (da, ống tiêu hoá), hình ảnh đại thể và vi thể cho thấy cấu trúc giống như lá cây dương xỉ.

  * Polýp là u xuất phát từ biểu mô phủ của các niêm mạc (thí dụ polýp tuyến đại tràng).

2. Danh pháp u ác:

  – Các u ác xuất phát từ trung mô và mô liên kết được gọi là SARCÔM. Thí dụ:

  * Sarcôm sợi (fibrosarcoma) là ung thư của mô sợi.

  * Sarcôm sụn (chondrosarcoma) là ung thư của mô sụn.

  – Các u ác xuất phát từ biểu mô được gọi là CARCINÔM. Thí dụ:

  * Carcinôm tế bào gai (squamous cell carcinoma) là ung thư xuất phát từ biểu mô lát tầng.

  * Carcinôm tuyến (adenocarcinoma) là ung thư xuất phát từ các biểu mô tuyến.

  * Carcinôm tế bào gan (hepatocellular carcinoma) là ung thư xuất phát từ tế bào gan.

C. Một số trường hợp đặc biệt

  – U tuyến đa dạng của tuyến nước bọt (pleomorphic adenoma): đại đa số các u, dù lành hoặc ác, đều có các tế bào của mô chủ u ít nhiều giống nhau; lý do là tất cả các tế bào u đều được sinh ra từ một tế bào chuyển dạng đầu tiên (tính chất đơn dòng). 

Hình 4: U tuyến đa dạng tuyến mang tai (A); đại thể u giới hạn rõ, mặt cắt đặc, óng ánh do co vùng biệt hóa theo hướng sụn (B). Vi thể gồm các đám biểu mô tuyến (1) và sụn trong (2, C).

Tuy nhiên trong 1 số trường hợp, tế bào chuyển dạng có thể sinh sản và biệt hoá theo nhiều hướng khác nhau, tạo ra u hỗn hợp nhiều thành phần. Thí dụ u :    tuyến đa dạng tuyến nước bọt, cấu tạo gồm các đám tế bào biểu mô nằm trên 1 mô đệm sợi niêm có chứa các ổ xương hoặc sụn, tất cả các thành phần khác nhau này đều có chung 1 nguồn gốc là các tế bào cơ-biểu mô chuyển dạng của  tuyến nuớc bọt. (Hình 4)

  – U quái (teratoma): cấu tạo gồm các thành phần tế bào và mô rất khác nhau xuất nguồn từ cả 3 lá phôi – như biểu mô, xương, sụn, mô thần kinh – sắp xếp hỗn độn với nhau. Các thành phần trên đều được sinh ra từ một tế bào mầm chuyển dạng, là tế bào có khả năng biệt hoá thành bất kỳ loại tế bào nào trong cơ thể (xem hình 40 và 41 trong Chương Bệnh lý Sinh dục nữ).

  – Một số u ác lại được đặt tên theo kiểu u lành với đuôi OMA. Th í dụ u ác trung biểu mô (mesothelioma), ung thư hạch nguyên phát (lymphoma), u hắc tố ác (melanoma), u tinh bào (seminoma). Các tên gọi này không hợp lý nhưng vì quá quen dùng nên vẫn được giữ nguyên.

  – Một số u được đặt tên theo tên của tác giả đầu tiên tìm ra. Thí dụ: sarcôm Ewing của xương, bệnh Hodgkin của hạch, limphôm Burkitt, sarcôm Kaposi, bướu Wilms,…

https://kienthucykhoa.asia/

Viết một bình luận